KÍCH THÍCH BUỒNG TRỨNG NHƯNG NANG TRỨNG KHÔNG PHÁT TRIỂN, LIỆU CÓ THỂ CÓ CON?

Đối với những bệnh nhân vô sinh hiếm muộn, kích thích buồng trứng là bước vô cùng quan trọng khi tiến hành điều trị thụ tinh trong ống nghiệm. Thế nhưng ở một số bệnh nhân, dù dùng thuốc kích thích buồng trứng nhưng nang trứng vẫn không phát triển. Và IVM đã được xem như cứu cánh để giúp các trường hợp này vẫn được làm mẹ từ chính trứng của mình.

Bệnh nhân V.T.H (29 tuổi) và N.T.M.K (28 tuổi) là 2 trong số những trường hợp như thế.

Chị H lập gia đình năm 2016, mong con 3 năm. Bắt đầu từ năm 22 tuổi, chị H bị mất kinh. Đi thăm khám tại các cơ sở y tế, chồng chị H vẫn bình thường, không có vấn đề khó khăn về sinh sản.

Trường hợp chị K.  từ năm 2018, mong con 2 năm, từ nhỏ đã không có kinh. Cũng tương tự chị H, chồng của chị K. cũng có kết quả bình thường về sinh sản.

Hai bệnh nhân đã được thăm khám tại một bệnh viện chuyên về điều trị hiếm muộn, được chỉ định thụ tinh trong ống nghiệm (IVF). Tuy nhiên, bệnh nhân phải ngưng điều trị vì nang trứng không phát triển khi dùng thuốc kích thích buồng trứng. Sau đó, bệnh nhân tìm đến Bệnh viện Mỹ Đức – IVFMD.

Tại IVFMD, hai bệnh nhân do BS. Lê Long Hồ và BS. Lê Thị Ngân Tâm theo dõi điều trị. Qua kết quả thăm khám, các bác sĩ ghi nhận cả 2 bệnh nhân có dự trữ buồng trứng bình thường. Tuy nhiên, nồng độ FSH và LH rất cao, trong khi nồng độ estradiol lại rất thấp.

* (FSH và LH giúp tiên lượng khả năng kích thích buồng trứng cho nang noãn phát triển. Nếu FSH cao thì dự trữ buồng trứng kém. Estradiol liên quan đến việc điều hòa chu kỳ sinh sản nữ và kinh nguyệt).

Nói về trường hợp của 2 bệnh nhân này, Bác sĩ Lê Long Hồ, Phó Trưởng Đơn vị Hỗ trợ sinh sản Mỹ Đức Phú Nhuận giải thích: ‘’ Nang trứng lớn được là nhờ FSH tiết ra từ tuyến yên, theo đường máu đến buồng trứng. Khi kích thích buồng trứng để làm thụ tinh trong ống nghiệm hoặc để gây phóng noãn thì bác sĩ sẽ kê thuốc chứa FSH cho bệnh nhân. Tuy nhiên, hai bệnh nhân này kháng với FSH. Tức là dùng FSH liều cao bao nhiêu cũng sẽ không đáp ứng. Mà không đáp ứng thì nang trứng không lớn, không thể chọc hút trứng để làm thụ tinh trong ống nghiệm’’.

Siêu âm phụ khoa quan sát thấy tử cung và hai buồng trứng của bệnh nhân bình thường. Kiểm tra nhiễm sắc thể cũng không ghi nhận bất thường. Đặc biệt, bệnh nhân N.T.M.K còn có kết quả gene là đa hình thụ thể FSH (tức thụ thể FSH của bệnh nhân này khác với đa số bệnh nhân khác).

Hai bệnh nhân được kích thích buồng trứng với liều cao thêm một lần nữa nhưng nang trứng vẫn không phát triển. Từ đây, 2 bệnh nhân được chẩn đoán Hội chứng buồng trứng đề kháng với Gonadotropin (tức kháng với FSH – thuốc kích thích buồng trứng).

Theo đánh giá, ở trường hợp 2 bệnh nhân này chỉ có thể tiến hành kỹ thuật IVM – phương pháp bệnh nhân không cần dùng thuốc mà tiến hành chọc hút trực tiếp các noãn non. Các noãn non sẽ được nuôi trưởng thành bên ngoài cơ thể, sau đó tiến hành thụ tinh với tinh trùng.

Kỹ thuật IVM được thực hiện ở hai bệnh nhân. Kết quả có noãn, tạo thành phôi. Sau chuyển phôi lần đầu, cả hai bệnh nhân đều đậu thai và sinh bé vào tháng 7/2020 và 7/2021.

Đối với trường hợp của 2 bệnh nhân này, Bác sĩ Hồ đánh giá nếu trước đây, những trường hợp bệnh nhân mắc hội chứng buồng trứng kháng Gonadotropin chỉ có thể xin trứng để thụ tinh với tinh trùng của chồng, rồi mang thai. Giờ đây, nhờ kỹ thuật IVM mà bệnh nhân có cơ hội mang thai từ chính trứng của mình.

Từ trường hợp của 2 bệnh nhân, BS Lê Long Hồ và BS Lê Thị Ngân Tâm đã tiến hành nghiên cứu, đánh giá, chứng minh một ứng dụng khác của kỹ thuật IVM là không chỉ dành cho những bệnh nhân có hội chứng buồng trứng đa nang hoặc nhiều trứng, mà còn có thể áp dụng được cho những bệnh nhân có số lượng trứng ít hoặc bình thường.

Công bố này mới đây được đăng trên Tạp chí Hỗ trợ Sinh sản và Di truyền (Journal of Assisted Reproduction and Genetics). Đây là tạp chí được xuất bản với sự hợp tác của Hiệp hội Y học Sinh sản Hoa Kỳ (American Society for Reproductive Medicine – ASRM), một tổ chức gồm hơn 8.000 bác sĩ, nhà nghiên cứu, y tá, kỹ thuật viên và các chuyên gia khác tận tâm nâng cao kiến thức và chuyên môn về sinh học sinh sản.

Bài nghiên cứu của BS. Lê Long Hồ và BS. Lê Thị Ngân Tâm cùng cộng sự IVFMD được đăng tải trên Tạp chí Hỗ trợ Sinh sản và Di truyền (Journal of Assisted Reproduction and Genetics).