TỶ LỆ THÀNH CÔNG TRONG IVF

A. Tỷ lệ thành công sau điều trị thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) tại một trung tâm hỗ trợ sinh sản (HTSS):

Chúng tôi hiểu rằng băn khoăn lớn nhất của bạn khi điều trị IVF là tỉ lệ thành công. Và chúng tôi hy vọng những thông tin dưới dây cần thiết cho bạn để hiểu đúng về thành công trong IVF là gì, để từ đó bạn có thể đưa ra những quyết định cho việc điều trị của vợ chồng bạn trong tương lai.

Tỉ lệ thành công sau IVF được tính như thế nào?

Mục tiêu lớn nhất của IVFMD trong điều trị Hiếm Muộn – Vô sinh là mang đến một em bé khoẻ mạnh cho các cặp vợ chồng mong con. Và đây cũng là mối quan tâm hàng đầu của các cặp vợ chồng được chỉ định IVF. Tỉ lệ sinh em bé sau điều trị IVF (live birth rate) được tính dựa trên số trường hợp sinh bé khoẻ mạnh sau IVF trên tổng số trường hợp được chuyển phôi trong thời gian nhất định. Hiện nay, tỉ lệ em bé khoẻ mạnh được sinh ra sau điều trị IVF được phần lớn các Trung tâm IVF trên thế giới, trong đó có Việt Nam sử dụng là một trong những chỉ số quan trọng để đánh giá hiệu quả  điều trị sau IVF. Tuy nhiên, trung tâm chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn trong khâu thu thập dữ liệu em bé sanh vì không thể liên hệ với bệnh nhân sau điều trị (Vd: bệnh nhân về quê theo dõi thai, thay đổi các thông tin hành chánh như số điện thoại, email,….).

Vì vậy, tỉ lệ thành công sau điều trị IVF (success rate hay pregnancy rate) hiện nay chủ yếu được tính dựa trên tổng số trường hợp có thai lâm sàng (có hình ảnh túi thai trên siêu âm) sau khi chuyển phôi từ 5 đến 7 tuần trong khoảng thời gian nhất định. Sau nguyên nhân gây vô sinh thì tuổi của người vợ là yếu tố quan trọng thứ 2 chi phối đến tỉ lệ có thai sau IVF. Chính vì vậy, để có một cái nhìn chính xác về tỉ lệ thành công sau IVF thì tỉ lệ có thai thường được tính theo độ tuổi của người vợ hoặc theo từng nguyên nhân vô sinh hay theo từng kỹ thuật điều trị tương ứng. Dựa vào các cách phân loại này, nếu vợ chồng bạn thuộc nhóm nào, bạn có thể ước tính được tỉ lệ thành công sau IVF đối với vợ chồng bạn ra sao.

 

B. Hiện nay, tỷ lệ thành công sau điều trị IVF tại IVFMD được thể hiện các biểu đồ dưới đây:

Biểu đồ sau đây thể hiện nhóm bệnh nhân chuyển phôi tươi ngay chu kỳ điều trị đầu tiên, sử dụng noãn của bênh nhân chuyển phôi vào ngày 3 có tỷ lệ thai lâm sàng dao động khoảng 40 – 45% tùy theo nhóm tuổi trong 6 tháng đầu năm 2020.

Hình 1: Tỷ lệ thai lâm sàng nhóm bệnh CHUYỂN PHÔI TƯƠI , NOÃN CỦA BỆNH NHÂN phân chia theo các nhóm tuổi 6 tháng đầu năm 2020

Biểu đồ ở hình 2 thể hiện nhóm bệnh nhân chuyển phôi đông lạnh ngay chu kỳ điều trị đầu tiên, sử dụng noãn của bênh nhân chuyển phôi vào ngày 3 có tỷ lệ thai lâm sàng dao động khoảng 50%,  với tuổi phôi ngày 5 có tỷ lệ thai lâm sàng dao động khoảng 60% phân theo các độ tuổi trong 6 tháng đầu năm 2020.

Hình 2: Tỷ lệ thai lâm sàng nhóm bệnh CHUYỂN PHÔI ĐÔNG LẠNH, NOÃN CỦA BỆNH NHÂN phân chia theo các nhóm tuổi 6 tháng đầu năm 2020

Tại IVFMD, chúng tôi cam kết cải thiện tỉ lệ thành công sau điều trị IVF thông qua việc đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu và ứng dụng kỹ thuật tiên tiến nhất, cũng như tích cực trong chăm sóc cá nhân hoá từng trường hợp. Bạn sẽ thấy và cảm nhận được cam kết này của chúng tôi qua các phục vụ của đội ngũ y bác sỹ, không gian nơi điều trị, cũng như tỉ lệ thành công sau IVF được cập nhật mới theo các tiêu chuẩn chất lượng và nỗ lực trong việc duy trì chứng nhận tiêu chuẩn chất lượng của Hiệp hội vô sinh Úc (RTAC) hàng năm khi đến với IVFMD.

 

C. Các chỉ số, xét nghiệm cận lâm sàng, bệnh nhân cần quan tâm trong suốt quá trình điều trị

– Beta hCG là chỉ số đo nồng độ hormone beta hCG (Human Chorionic Gonadotropin) trong máu, được tạo thành từ nhau thai và xuất hiện khi phôi bắt đầu làm tổ tại nội mạc tử cung. Xét nghiệm beta hCG là bước đầu chẩn đoán có hiện tượng thụ thai hay không, thường thực hiện sau 14 ngày sau khi chuyển phôi. Hình thức xét nghiệm beta hCG bằng nước tiểu qua que thử thai, nếu kết quả dương tính sẽ xuất hiện hai vạch đỏ trên que. Kết quả này có thể cho người phụ nữ biết mình có thai hay không nhưng sẽ không thể đo được chính xác nồng độ beta hCG trong cơ thể. Xét nghiệm nước tiểu có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như lượng nước tiểu và thời gian trong ngày mà bạn kiểm tra. Vì vậy để biết được chính xác kết quả và chỉ số nồng độ beta hCG thì người phụ nữ nên tiến hành xét nghiệm máu để có được kết quả cuối cùng kể cả trong trường hợp nồng độ beta hCG khá thấp.

– Thông thường trong 10 tuần đầu, nồng độ beta hCG sẽ tăng gấp đôi cứ sau 48 đến 72 giờ và sẽ đạt đỉnh trong 8-11 tuần đầu tiên của thai kỳ, sau đó sẽ giảm dần và bình nguyên trong phần còn lại của thai kỳ.

Kết quả thụ thai hay không sẽ dựa vào chỉ số nồng độ beta hCG như sau:

  • Nồng độ beta hCG < 5 mIU / mL được xem là âm tính đối với thai kỳ (kết quả không có thai).
  • Nồng độ trên ≥ 25 mIU / mL được xem là dương tính đối với thai kỳ (kết quả có thai).
  • Tùy vào chỉ số beta hCG mà bác sĩ điều trị sẽ có nhận định phù hợp để theo dõi thai kỳ.

Một số trường hợp đặc biệt của nồng độ beta hCG:

  • Nồng độ beta hCG cao:Khả năng người phụ nữ có thể mang đa thai (sinh đôi hoặc sinh ba) hoặc thai trứng,…
  • Nồng độ beta hCG thấp:Nguy cơ mang thai ngoài tử cung, sẩy thai hoặc tính tuổi thai không chính xác,…

– Tỷ lệ chính xác của xét nghiệm beta hCG không đạt được 100%, trong một vài trường hợp kết quả có thể là âm tính giả và dương tính giả với thai kỳ.

– Thai sinh hóa là tình trạng có thai và bị sẩy thai sớm trước khi siêu âm thấy hình ảnh túi thai trong tử cung. Trong hầu hết các trường hợp, thai sinh hóa thường không cần can thiệp. Nồng độ beta hCG sẽ giảm về âm tính khi phôi thai không còn.

– Thai lâm sàng thấy hình ảnh túi thai trên siêu âm (kể cả thai ngoài tử cung), thường được thực hiện vào khoảng 3 tuần sau khi xét nghiệm beta hCG dương tính.

– Thai ngoài tử cung là tình trạng thai làm tổ bên ngoài buồng tử cung, vị trí làm tổ bất thường hay gặp là ống dẫn trứng. Khi dừng lại để làm tổ tại ống dẫn trứng, phôi thai sẽ không thể phát triển tiếp tục, thường vỡ sớm gây xuất huyết và đe doạ tính mạng của thai phụ nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời. Các vị trí làm tổ khác của thai ngoài tử cung có thể gặp là buồng trứng, ổ bụng, kênh cổ tử cung. Thai ngoài tử cung không thể tiếp tục duy trì. Thông thường, việc chấm dứt quá trình mang thai sẽ được thực hiện bằng thuốc hoặc phẫu thuật.

– Thai diễn tiến: có sự hiện diện của tim thai trên hình ảnh siêu âm.

– Đa thai: Một thai kỳ mang nhiều hơn một thai nhi. Chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm (In vitro Fertilization – IVF) làm tăng nguy cơ mang đa thai đến tám lần so với thụ thai tự nhiên do nhiều phôi được chuyển vào tử cung. Việc mang đa thai tạo nguy cơ cao hơn cho bà mẹ và các em bé so với mang đơn thai. Nguy cơ chính là sinh non và các nguy cơ khác bao gồm xuất huyết trong thời gian mang thai, tăng huyết áp hoặc tiền sản giật, … Các em bé được sinh ra từ đa thai có nhiều khả năng bị dị tật như bại não hoặc không nuôi sống được. Đồng thời, các bà mẹ mang đa thai có mức độ mệt mỏi về tâm lý cao hơn, bởi việc chăm sóc nhiều bé khó khăn hơn so với chăm sóc một bé. Trong các trường hợp từ 3 thai trở lên, các bác sĩ thường tư vấn thực hiện thủ thuật giảm bớt thai, nhằm giảm nguy cơ sinh non. Kỹ thuật giảm thai được thực hiện hiệu quả và an toàn nhất vào tuần thứ 7 đến thứ 8 của thai kỳ. Chuyển đơn phôi (Single Embryo Transfer – SET) là cách duy nhất để giảm tỉ lệ mang đa thai liên quan đến IVF. Một chu kỳ IVF có thể tạo được nhiều phôi tùy thuộc vào chất lượng noãn, số chu kỳ thực hiện, độ tuổi và sức khỏe của người mẹ.

 

Tài liệu tham khảo:

https://www.fertilitysociety.com.au/wp-content/uploads/2017-RTAC-ANZ-COP-FINAL-2.pdf

https://npesu.unsw.edu.au/sites/default/files/npesu/surveillances/Assisted%20Reproductive%20Technology%20in%20Australia%20and%20New%20Zealand%202018.pdf

https://www.fertilitysociety.com.au/wp-content/uploads/How-to-choose-an-IVF-clinic-and-understand-success-rates_ACCESS-1.pdf