Trữ trứng xã hội: Xu hướng bảo tồn khả năng sinh sản của phụ nữ

Bạn đã biết về “Trữ trứng xã hội” – một biện pháp được xem là “bảo hiểm sinh sản” khi người phụ nữ chưa muốn lập gia đình và sinh con sớm, hoặc đang cần điều trị các bệnh lý phải thực hiện can thiệp có thể ảnh hưởng đến chất lượng trứng, hay phải làm việc trong môi trường có tính rủi ro cao?
Cùng tìm hiểu một số thông tin về trữ trứng xã hội với bác sĩ hỗ trợ sinh sản IVFMD FAMILY, Khoa Phụ Sản, bệnh viện Gia Đình

Khả năng sinh sản suy giảm theo độ tuổi
Ở phụ nữ, độ tuổi thích hợp nhất cho việc có thai và sinh con là từ 20 đến 30 tuổi. Ở độ tuổi này, việc có thai thường dễ dàng, việc mang thai và sinh con cũng ít biến chứng hơn và trẻ sinh ra khỏe mạnh hơn.

Từ 30 tuổi trở đi, khả năng sinh sản của phụ nữ bắt đầu giảm dần. Người ta nhận thấy, sau 35 tuổi, khả năng sinh sản của phụ nữ giảm rõ rệt qua từng năm mặc dù không có bệnh lý gì đặc biệt. Đến sau 40 tuổi, chỉ khoảng 10% phụ nữ có thể thụ thai và mang thai đến khi sinh.

Việc suy giảm khả năng có thai của phụ nữ theo tuổi chủ yếu là do sự suy yếu của buồng trứng. Tuổi mãn kinh của phụ nữ ở Việt Nam trung bình vào khoảng 48 tuổi, khi buồng trứng không còn hoạt động. Tuy nhiên, khoảng hơn 5 năm trước đó, người phụ nữ có thể đã không còn khả năng sinh sản.

Đồ thị thể hiện khả năng sinh sản giảm dần theo độ tuổi

Ngày nay, với xu thế phát triển của xã hội, phụ nữ có nhiều mục tiêu và hoài bão hơn, khoảng thời gian từ 20 đến 35 tuổi thường được ưu tiên cho học tập, phát triển nghề nghiệp, tăng thu nhập hay tham gia các hoạt động xã hội,…. Việc lập gia đình và mang thai thường được dời lại, chậm hơn. Điều này dẫn đến rất nhiều phụ nữ có con khi ở độ tuổi muộn (sau 30 trở đi), lúc này khả năng sinh sản đã bắt đầu giảm hoặc thậm chí đã sụt giảm nhiều. Chính xu hướng này sẽ làm tỉ lệ hiếm muộn ngày càng tăng.

Điều trị hiếm muộn ở trường hợp phụ nữ lớn tuổi có tỉ lệ thành công thấp và chi phí điều trị tốn kém rất nhiều mặc dù đã áp dụng các kĩ thuật hiện đại liên quan đến hỗ trợ sinh sản. Ở trường hợp dự trữ buồng trứng cạn kiệt hay cố gắng điều trị với trứng tự thân không hiệu quả, lựa chọn bắt buộc để có thai là lựa chọn xin trứng.

Đồ thị thể hiện khả năng có thai giảm dần, tỉ lệ sẩy thai tăng theo độ tuổi

Trữ trứng xã hội: Giải pháp bảo tồn khả năng sinh sản ở phụ nữ

Trong trường hợp phụ nữ chưa có gia đình hay chưa có ý định sinh con, trữ trứng xã hội hay còn gọi trữ trứng, trữ noãn là giải pháp để ngăn ngừa những yếu tố về tuổi ảnh hưởng đến khả năng sinh sản. Tuy nhiên lựa chọn trữ trứng xã hội sẽ còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: chủng tộc, đạo đức, văn hóa, kinh tế và pháp luật.

Để tiến hành trữ trứng xã hội, phụ nữ cần thực hiện kích thích buồng trứng và chọc hút lấy trứng. Hiện nay, có 2 kỹ thuật dùng để trữ là thủy tinh hóa hạ nhiệt độ nhanh và thuỷ tinh hoá hạ nhiệt độ chậm. Trong đó thủy tinh hóa – hạ nhiệt độ nhanh ít ảnh hưởng đến hoạt động của trứng sau rã nên là kĩ thuật được ưu tiên sử dụng nhiều hơn.

Các bằng chứng hiện tại về việc trữ trứng với phương pháp thủy tinh hóa cho thấy trứng được sử dụng tạo phôi sau rã không có sự khác biệt về tỉ lệ sống, chất lượng, khả năng mang thai và sức khỏe của thai nhi so với trứng vừa được chọc hút. Do đó việc trữ trứng xã hội được xem như là một “bảo hiểm sinh sản” trong những trường hợp người phụ nữ chưa muốn lập gia đình sớm, người đang lên kế hoạch điều trị bệnh cần phải thực hiện những can thiệp ảnh hưởng đến chất lượng noãn hay người phải làm việc trong môi trường có tính rủi ro cao.

BS. Mai Đức Tiến
Đơn vị Hỗ trợ sinh sản IVFMD-FAMILY
Khoa Phụ sản – Bệnh viện Đa khoa Gia Đình